Cần chú ý những gì khi ăn khoai tây, khoai mài?

Trong trường hợp bình thường, khoai tây có chứa lượng chất nightshade rất ít. Nhưng nếu bảo quản không hợp lý hoặc vì thời tiết oi bức, khoai tây lên mầm hoặc bị úng thối, thì hàm lượng chất độc hại này lại tăng lên rất nhiều.

khoai tây

Cần lưu ý, khi ăn khoai tây chỉ cần chất nightshade hấp thu vào cơ thể 0.2g là đã có thể bị trúng độc. Nếu hấp thu từ 0.3-0.4g là có thể gây trúng độc nghiêm trọng. Chất nightshade có tác dụng phá hủy hồng cầu, có tác dụng kích thích rất mạnh đối với niêm mạc. Triệu chứng trúng độc có những biểu hiện ở đường tiêu hóa như: khô miệng, tê lưỡi, buồn nôn, đau bụng, đi tháo, v.v… Người bị nặng có thể khó thở, bị co giật, v.v..

Vì vậy, cần tránh ăn các loại khoai tây đã nảy mầm và đã biến thành màu xanh, vì trong củ khoai tây đã nảy mầm ngoài vỏ củ khoai tây có màu xanh chứa một loại chất độc “nightshade” (vị thuốc này Đông y gọi là Long Quỳ). Cứ trong 100g mầm khoai tây có chứa tới 420-730mg loại chất độc này. Vì vậy người sử dụng phải khoét bỏ phôi mầm và chỗ vỏ xanh nơi khoai tây rồi xắt ngâm trong nước lã 1 giờ, khi nấu nên cho vào nồi một thìa giấm ăn và phải ninh kỹ mới triệt được chất độc này trong củ khoai tây.

Đồng thời nên chú ý ăn khoai tây lượng vừa phải. Khi ăn khoai tây mà cảm thấy ở miệng bị tê tê, phát ngứa, v.v… thì cần phải ngưng ăn ngay lập tức.

Theo Đông y, khoai tây vị ngọt, tính bình, có công hiệu kiện tỳ hòa vị, ích khí điều trung; có thể chữa trị được các chứng bệnh như đau dạ dày và bí đại tiện.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng khoai tây:

– Bí đại tiện do thói quen, bệnh dạ dày và loét hành tá tràng: Khoai tây tươi 1.000g, sau khi cạo rửa sạch, xắt nhỏ, giã nát, cho thêm nước, dùng khăn sạch vắt lấy nước, lại dùng nước đó cho vào trong nồi đun nhỏ lửa. Khi đã đặc lại, đổ ra bát, để nguội, hòa ít mật ong vào và ăn. Mỗi lần ăn 15ml chia 2 lần vào lúc đói, có thể có tác dụng tốt.
– Bỏng, chàm: Có thể lấy khoai tây sống đắp vào chỗ bỏng, chàm.

– Buồn nôn, bị nôn mửa, ăn uống giảm sút và có bệnh về chức năng giác quan thần kinh: Dùng 100g khoai tây, 100g gừng tươi, 1 quả quýt rửa sạch, xắt nhỏ, giã nát, vắt lấy nước trước bữa ăn, uống 15ml nước đó, sẽ có hiệu quả chữa bệnh rất tốt.
– Dư vị toan (acid dạ dày): Trước mỗi bữa ăn nửa giờ, ăn 100g cháo khoai tây nấu đặc, có hiệu quả chữa trị nhất định.

– Loét dạ dày và loét hành tá tràng: | Khoai tây tươi cạo vỏ, rửa sạch, giã nát, cho lượng nước sôi để nguội hòa vào, rồi vắt lấy nước. Hàng ngày, sáng và tối, lúc bụng đói, uống 1 chén nước đó. Liên tục uống trong 1 tháng, sẽ có tác dụng chữa trị rất tốt. Nếu . hàng ngày, sáng tối, vào lúc đói, uống 15ml nước ép đó có hòa thêm một ít mật ong, thì hiệu quả càng tốt hơn.

Nước ép khoai tây có tác dụng làm đẹp:

Nước khoai tây tươi ép có thể kích thích hoạt động của dạ dày. Ngoài ra, nước khoai tây còn giúp làm lành các chỗ loét, giúp giảm huyết áp.

Ăn kiêng bằng khoai tây rất hiệu quả. Sau hai tuần, bạn có thể giảm 5kg mỡ thừa. Tuy nhiên, trong chế độ ăn kiêng với khoai tây, cần phải uống thêm 3 lít nước mỗi ngày.

Làm mặt nạ bằng khoai tây giúp làm ẩm da, bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời. Bạn cần rửa sạch khoai tây, luộc cả vỏ. Sau đó nghiền nhỏ khoai tây và trộn với váng sữa. Đắp hỗn hợp này lên mặt, bạn sẽ có một làn da tuyệt đẹp.

KHOAI MÀI (hoài sơn)

Khoai mài trong Đông y gọi là “hoài sơn” hay “sơn dược”. Khoai mài được dùng để ăn như các loại khoai khác, có thể luộc, xào, nấu canh, hấp cơm… Theo Đông y, khoai mài có vị ngọt, tính bình, bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ. Thường dùng làm thuốc bổ ngũ tạng, mạnh gân xương, chữa suy nhược cơ thể, thận suy, di tinh, mộng tinh, tiêu khát (tiểu đường), tiêu chảy, lỵ lâu ngày, ra mồ hôi trộm, đau lưng, mỏi gối, vv… Ngày dùng 12-24g, sắc uống hoặc tán bột uống. Thường phối hợp với các vị thuốc khác.

Theo y học hiện đại, khoai mài chứa 63.25% tinh bột, 6.70% chất đạm, 0.45% chất béo; có giá trị dinh dưỡng quý đứng sau gạo và bắp ngô. Ngoài ra nó còn chứa thành phần mucin là một protein nhớt allantoin, các acid amine arginin, cholin và men maltase, men này có khả năng thủy phân đường rất lớn, hồi phục chức năng co bóp của nhu động ruột để tăng hấp thụ và chuyển hóa đường.