Tổng hợp các món rau có công dụng chữa bệnh vặt hiệu quả (phần 2)

Rau là thức phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày bởi tính mát, vị thơm tự nhiên, bên cạnh đó rau còn cung cấp nhiều vitamin cùng các chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Ngoài ra, rau cũng có tác dụng như là một loài thảo dược hỗ trợ chữa một số bệnh vặt.

RAU ĐAY

Lá non rau đay mềm thường dùng làm rau ăn sống, trộn dầu giấm, luộc hoặc nấu canh. Món canh rau đay nấu với cua đồng (có thể phối hợp với rau mồng tơi hoặc mướp hương) là một món ăn giải nhiệt và bổ dưỡng rất tốt.

Trong 100g rau đay có chứa: nước 91.4g, protid 2.8g, glucid 3.2g, cellulose 1,5g, tro 1.1g; các khoáng chất Ca 182mg, P57.3g, Fe 7.70mg; vitamin B1 0.13mg, vitamin B2 0.26mg, vitamin PP 1.1mg, vitamin C 72mg, beta carotene 4560mg, cung cấp 24calo. Ngoài ra, lá rau đay còn chứa một loại gluesid gọi là capsulin, là một hoạt chất đắng và bổ có tác dụng trợ tim.

Theo Đông y, rau đay có vị ngọt, tính mát; có tác dụng bổ dưỡng, lợi tiêu hóa, nhuận tràng, tiêu đờm, lợi tiểu, giải nhiệt (do hàm lượng chất nhầy trong lá cao), kháng viêm, cầm máu, lợi sữa, an thai. Thường được dùng để phòng trúng nắng, chữa táo bón, bí tiểu, đi tiểu buốt, ho ra máu, nôn ra máu, lý nhiệt, sản phụ ít sữa. Ngoài ra còn dùng để phòng ngộ độc tôm, cua, cá…

Hạt có vị đắng, tính lạnh; có tác dụng hoạt huyết, trợ tim. Thường dùng để chữa kinh nguyệt không đều, vô kinh, ho suyễn, phù thũng. Ngày dùng 10-15g sắc uống.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng rau đay:

– Bí tiểu: Rau đay tươi nấu với nước uống thường xuyên trong ngày.
– Lợi sữa: Mỗi ngày ăn khoảng 200g rau đay trong tuần lễ đầu tiên sau khi sinh, các tuần kế tiếp ăn nhiều thêm một chút.
– Phù thủng: Dùng 15-20g hạt rau đay, sắc với nước, uống nóng, đắp chăn cho mồ hôi vã ra.
– Suyễn: Hạt rau đay sắc hơi đặc với nước, uống chặn cơn suyễn.
– Táo bón: Dùng lá rau đay sắc với nước, uống 2-3 lần trong ngày.
– Trúng nắng: Giã nát lá rau đay, vắt lấy cốt để uống, bã đắp lên 2 thái dương hoặc dùng hạt rau đay sắc nước uống, uống
nóng để ra mồ hôi.

RAU HÚNG CHANH (rau tần)

Theo Đông y, rau húng chanh có vị chua the, mùi thơm hăng, tính ấm, có tác dụng giải cảm, làm ấm phổi, trị cảm cúm, ho suyễn, viêm họng, hôi miệng, sát khuẩn, tiêu đờm, trục hàn.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng rau húng chanh:

– Cảm cúm: Lấy 15g lá húng chanh khô nấu với 3 bát nước, sắc cô lại còn 1 bát, chia ra 3 lần uống. Có thể thêm vài lát gừng tươi, ngoài ra nên xông thêm: lấy một nắm rau húng chanh tươi, một nắm lá bạc hà (loại làm thuốc chứ không phải bạc hà nấu canh chua ở Nam bộ) nấu với nước, trùm chăn xông cho ra mồ hôi.
– Dị ứng da: Lấy 15g rau húng chanh khô sắc với 1 bát nước, ngày uống 3 lần, ngoài ra lấy một nắm lá rau tần tươi, giã nát trộn thêm một ít muối, xát hoặc đắp lên chỗ dị ứng.
– Ho do cảm lạnh: Lấy 15-30g lá húng chanh tươi, sắc với nước cho hơi cô lại, chia ra 2-3 lần uống trong ngày, nên uống nóng.
– Ho suyện: Lá húng chanh tươi 12g, lá tía tô tươi 10g, gừng tươi 2-3 lát. Tất cả sắc với nước cho hơi cô lại, chia làm 3 lần uống trong ngày. Khi dùng thuốc này kiêng ăn đồ rán xào, đồ sống và đồ biển.
– Hôi miệng: Lấy một nắm lá rau tần khô, sắc với nước cho cô lại, thường xuyên ngậm và súc miệng, đừng nuốt nước này.
– Trúng độc, sâu độc cắn: Dùng lá húng chanh giã nhuyễn rồi đắp lên vết cắn.
– Viêm họng: Dùng 2-3 lá húng chanh tươi, chấm muối, nhai nát trong miệng, nuốt từ từ, có thể ăn luôn bã. Mỗi ngày ăn 5-6 lần.
– Viêm loét miệng và lưỡi: Rau húng chanh 12g, rau mùi 20g. Tất cả ngâm với nước muối, nhai nuốt từ từ.

RAU HÚNG QUẾ

rau húng quế

Húng quế có chứa các chất estrogole, linalool, cineole, v.v… giúp bảo vệ cơ thể trước các vi khuẩn.
Theo Đông y, rau húng quế có vị cay, tính nóng, thơm; có tác dụng giải nhiệt, trị táo bón, cảm cúm, đầy bụng, rắn cắn, mẩn ngứa, đau mắt, đau răng.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng rau húng quế:

– Đau mắt: Lấy hạt húng quế, giã nát, cho ít nước để dính, đắp lên mắt.
– Đau răng, sâu răng: Lấy lá tươi sắc với nước cho cô lại, dùng để ngậm và sức miệng.
– Đầy bụng, đau dạ dày:
(1) Húng quế 20g, húng chanh 10g, lá hồng bì 8g, vỏ quýt 6gr. Sắc nước uống, ngày uống 2 lần.
(2) Húng quế 10g, ké hoa vàng 12g, hương nhu 6g, gừng nướng 3 lát. Sắc với nước uống. Ngày uống 2 lần.
(3) Dùng lá húng quế, giã nhỏ, sắc với nước uống.
– Đường trong máu cao: Uống thường xuyên nước ép hoa quả trong đó có vị tỏi và húng quế.
– Ho: Pha một cốc nước ấm với một chút mật ong và quả chanh, uống vào buổi sáng. Uống bổ sung trong ngày và nước ép cà rốt, ăn tỏi, ăn hành sống và húng quế.
– Mẩn ngứa: Dùng lá húng quế tươi, vò nát chà lên chỗ ngứa.
– Vết thương, vết rắn cắn: Dùng lá tươi, giã nhuyễn, đắp lên vết thương.

RAU KINH GIỚI

Theo Đông y, rau kinh giới có vị cay, tính ấm, không độc, có thể làm tan phong nhiệt, tăng sức đề kháng, giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn; có tác dụng làm vã mồ hôi, trị nôn mửa, ly, băng huyết, nhức đầu, cảm mạo, đau nhức đầu xương, rôm sảy, trúng gió.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng rau kinh giới:

– Băng huyết, máu cam:
(1) Dùng 15g hoa kinh giới khô, sao đen sắc với 0.2 lít nước còn lại 0.1 lít, ngày uống 2-3 lần.
(2) Kinh giới 15g, gương sen 15g. Sao đen cả hai, tán thành bột. Ngày uống 3 lần khi bụng đói.

– Cảm lạnh, nhức đầu, đau mình:(1) Dùng 20g kinh giới (hoa, lá, cành) sắc nước uống lúc còn nóng. Sau đó thêm 5g lá dâu, 10g lá sả, 8g lá bưởi, 6g lá cúc tần, 4g lá ổi; đun sôi với nước để xông.
(2) Hoa kinh giới khô 15g, bạch chỉ 10g. Sắc nước uống, ngày 2 lần.
(3) Hoa kinh giới, tía tô, hương nhu, ngải cứu, hoắc hương, liều lượng bằng nhau. Sắc với nước cho cô lại, vo thành viên bằng hạt bắp. Khi cảm uống từ 7-10 viên, dùng với nước lá tre. Trẻ em dùng từ 2-4 viên.
(4) Hoa kinh giới khô tán nhỏ, mỗi lần uống từ 6-8gr với nước.
– Cảm nóng:
(1) Dùng một năm kinh giới tươi, giã nhỏ với vài miếng gừng, vắt lấy nước cốt uống, bã còn lại bọc vải đánh gió dọc theo sống lưng.
(2) Dùng 20g kinh giới khô, sao vàng thêm nước, sắc còn phân nửa, uống lúc nóng, đắp chăn cho vã mồ hôi.
– Đau nhức các đầu xương: Kinh giới tươi (cành non, lá) 50g, gừng sống 10g. Giã nát, vắt nước cốt uống ngày 2 lần, bã còn lại dùng để đánh gió dọc theo sống lưng.
– Đinh nhọt sưng tấy: Dùng một nắm lá kinh giới, sắc với nước cho cô lại rồi uống nhiều lần.
– Nặng đầu, cứng gáy: Lấy lá và hoa kinh giới, phơi trong mát, nhồi vào gối để gối đầu đến khi hả hơi không còn mùi, thay cái mới.
– Mũi, miệng chảy máu: Dùng một bó kinh giới đốt thành than, tán nhỏ, thêm một ít vỏ quýt, sao với nước uống nhiều lần.
– Rôm sảy: Lấy lá và hoa kinh giới sắc với nước uống, ngoài ra | lấy lá kinh giới vò nát trong nước để tắm.
– Thổ huyết: Dùng mấy cây kinh giới, để nguyên rễ, giã nhỏ, vắt | lấy nước cốt uống ngay nửa chén.
– Trúng gió cấm khẩu, méo miệng:
(1) Lấy một nắm lá kinh giới, sao gần đen, tán thành bột hòa với ít rượu đổ vào miệng bệnh nhân.
(2) Lấy một nắm lá kinh giới, giã nát, lấy nước cốt cho bệnh nhân uống.

RAU MÙI TA (rau ngò, ngò rí)

Theo Đông y, rau mùi ta có vị cay, tính ôn, thơm; có tác dụng kích thích tiêu hóa, long đờm, tăng tiết sữa, giải nhiệt; dùng để chữa tiểu ra máu, sởi khó mọc, ăn khó tiêu, giun kim, lợi sữa, mẩn đỏ.

Hạt tươi có mùi hắc nhưng sấy lên thì mùi trở nên thơm, dễ chịu; có công dụng gây hưng phấn thần kinh, kích dục, tăng trí nhớ, kích thích ăn ngon miệng, tiêu hóa tốt hơn, chữa nôn, trướng bụng, gây trung tiện, giảm đau răng, đau thắt dạ dày ruột.

Hàm lượng carotene trong lá gấp 10 lần cà chua, dưa chuột và đậu rán. Hàm lượng calci, sắt cao hơn các loại rau khác. Ngoài ra còn chứa các vitamin B1, B2, B6, B12, C, E và các chất khoáng như kiềm, selen, magiê, đồng…

Ăn nhiều rau mùi ta là một cách tốt để ngăn ngừa bệnh tim, nhờ nó trung hòa muối natri và chất béo. Rau mùi ta có thể phối hợp với hầu hết các loại rau có trong các món nấu thịt gà, thịt bò, thịt lợn, cá…

Các bài thuốc chữa bệnh bằng rau mùi ta:

– Đậu Sởi khó mọc: Quả rau mùi 80g, rượu 0.1 lít, nước 0.1 lít. Quả rau mùi tán nhỏ đun sôi, đậy kín. Lọc bỏ bã, trộn với rượu, phun từ đầu tới chân, trừ mặt, đậu sẽ mọc ngay. Ноас: Rau mùi sắc với nước, để nguội rồi uống, đắp chăn cho vã mồ hôi, sởi sẽ mọc nhanh.
– Giải nhiệt: Dùng rau mùi hay rễ rau mùi sắc với nước khi nào hơi cô, chia ra uống nhiều lần.
– Giun kim: Hạt rau mùi tán nhỏ, trộn với trứng gà luộc, thêm ít dầu vừng, giã nhuyễn tất cả, nhét vào hậu môn.
– Kiết lỵ: Dùng hạt rau mùi chừng một nắm, sao thơm, tán nhỏ mỗi lần uống chừng 8g với nước đường nếu lỵ ra máu, nếu lỵ có đờm thì dùng với nước gừng.
– Khó tiêu, đau bụng lâm râm sau khi ăn: Rau mùi 1 nắm, vỏ quýt 8g. Sắc với nước, uống khi nước ấm.
– Lòi dom: Hạt rau mùi, quả rau mùi đốt lên, tắt cho khói bốc lên để xông vào hậu môn.
– Lợi sữa: Quả rau mùi 6g, nước 0.1 lít. Đun sôi, ngày uống 2 lần. Hoặc: Hạt rau mùi nấu với gạo nếp, ăn thường xuyên.
– Loét niêm mạc lưỡi: Rau mùi 20g, rau húng chanh 10 lá. Tất cả ngâm nước muối, nhai kỹ, nuốt từ từ.
– Mẩn đỏ: Vò nát rau mùi chà xát lên chỗ mẩn đỏ. .
– Trī: Hạt rau mùi sao cho thơm, tán nhỏ uống với rượu lúc bụng đói.

RAU MÙI TÀU (ngò tàu, ngò gai)

Theo Đông y, rau ngò tàu có vị the, mùi thơm hắc, tính ấm, có tác dụng chữa cảm mạo, sốt, ăn không tiêu, hôi miệng, nhiễm lạnh.

Các bài thuốc chữa bệnh bằng rau mùi Tàu:

– Cảm mạo, ăn không tiêu, cảm lạnh, sổ mũi:
(1) Rau mùi Tàu khô 10g, cam thảo nam 6g. Sắc với nước. Chia làm 3 lần, uống trong ngày.
(2) Rau mùi Tàu 50g, gừng tươi 1 lát. Giã nát, sắc với nước uống. Ngày uống 2 lần. Có thể dùng cách nhau 3 giờ.
(3) Rau mùi Tàu 30g, thịt bò 50g, gừng 2-3 lát. Thịt bò băm nhỏ, đổ tất cả vào nồi nấu chín, thêm tiêu, ăn nóng.
– Hôi miệng, hơi thở có mùi: Lấy một nắm ngò Tàu, sắc với nước cho cô lại, súc miệng nhiều lần trong ngày.
– Khí trướng, mệt mỏi: Lấy nửa kg rau mùi Tàu, phơi ráo nước, ngày dùng : 20g sắc với nước cho hơi cô lại, ngày uống 2 lần.